Kho Báu (11) - Lệ Hằng


KHO BÁU
TRUYỆN DÀI CỦA LỆ HẰNG
(11)
*****

Trời tháng Chín trong biếc vời vợi. Mây tháng Chín trắng xốp nhởn nhơ. Nắng tháng Chín vàng mọng lung linh. Gió tháng Chín vi vút hoan ca. Lũ học trò tháng Chín xúng xính áo quần cặp sách. Chúng tựu trường. Chiếc cặp phần thưởng mới cóng lắc lư trên vai, chiếc khăn quàng đội viên đỏ thắm đong đưa trước ngực, Nhỏ đi dưới hai hàng cây bạch đàn mà ngỡ như đang đi giữa quãng trường lộng gió. Tiếng chân cuốc vào đường, tiếng sỏi lạo xạo dưới chân hòa cùng tiếng gió trên cao, nó ngỡ mình đang ca khúc khải hoàn. Năm nay nó làm liên đội trưởng, năm nay nó được đọc bài phát biểu cảm nghĩ trong ngày khai giảng. Tiếng vỗ tay rần rần và tiếng trống chào mừng của các bạn đang còn vọng bên tai. Nó phải về kể cho bác Cả nghe giọng nó đã vang dõng dạc trong loa phóng thanh như thế nào và các bạn trầm trồ ra làm sao.
Nó đã về đến ngõ, ngôi nhà như đang chồm tới ôm lấy nó vỗ về chung vui niềm vinh dự. Nắng đã đổ bóng quá nửa sân, ông Trưởng đang cúi lom khom gom mớ đậu xanh vào mủng, cái nón lá to bè che hết gần nửa phần thân trên. Nhỏ sực nhớ chiều nay bác Cả đi khám kiểm tra mức độ hồi phục của cái lưng. Đợi đến tối sợ nguội hết cảm xúc lúc này không tả cho rành rọt được nên nó lân la đến khoe với ông Trưởng. Ông nheo mắt cười rạng rỡ:
- Giỏi rồi thì phải giỏi nữa. Ráng học mai mốt mà làm việc trên giấy trên tờ. – Ông nghĩ một quãng nhìn lại bộ quần xanh áo trắng mới cùng cái cặp mới của nhỏ. – Bây chừ đi học thứ chi cũng được sắm chứ hồi trước ba bây với chú bây đi học cực lắm.
- Cực răng rứa nội?
- Mần chi có cặp mà đeo, có cái bao nylon đựng sách vở là ngon rồi. Sách vở cũng không có phải đi mượn khắp làng. Mà không phải dễ mượn…
- Mượn không ra sách vở nên ba con nghỉ học, hả nội?
Ồ, nó mừng rỡ cướp cả lời của ông. Nó cho rằng mình đã tìm ra câu trả lời cho một câu hỏi hóc búa: Tại sao bác Cả nghỉ học? Tại không có sách vở mà học nên nghỉ là chuẩn quá rồi.  
- Không phải. Mượn chặp cũng ra chứ.
Nhỏ hụt hẫng.
- Rứa thì răng ba con bỏ học, nội? – Ánh mắt nó nhìn ông Trưởng nài nỉ.
Ông Trưởng lại nhìn đứa cháu, nó chưa lớn nhưng đã hiểu dăm điều ba chuyện và nhất là nó có cái đầu sáng sủa thông tuệ. Có lẽ đã đến lúc lần về trang nhật ký đen tối nhất của ba nó cho nó biết. Biết để cố mà học. Biết để đừng trách ba nó mỗi khi ba nó nổi quạu dữ dằn trong những ngày mưa bão.
- Mệ nội bây mất nên ba bây nghỉ học.
Ông lật ký ức, về lại gần hai sáu năm trước. Cũng là trận Đại Hồng Thủy như năm ngoái. Mưa trắng trời xối xả. Buổi sáng, ông dắt chú Thứ đến trường rồi đi có công chuyện. Bác Cả ở nhà thấy bà xoàng đầu mắc ói nên xin được nghỉ học một hôm nhưng bà không chịu. Chỉ cảm lạnh thôi mà để con mất một buổi học, sao đành lòng! Bác Cả chần chừ trễ học một lúc nhưng bà bắt bác đội mưa đi y như bác Cả đã từng bắt Nhỏ chạy bán mạng tới trường. Nước trên nguồn đổ về, nước lên nhanh không kịp trở tay. Ông Trưởng đón chú Thứ về thì không thấy bà đâu nữa. Đồ đạc trôi lỉnh kỉnh trong nhà. Bà cứu được mấy con heo nhỏ cho nằm trên chạn bếp. Bác Cả tê dại người hét đến lạc giọng: “Mạ ơi! Mạ ơi!” Bác vẫy vùng điên cuồng trong làn nước bạc. Nước bạc mênh mông, mưa bạc ngập trời tiếng thét thất thanh cao xanh không nghe tới. Chú Thứ năm ấy học lớp Bốn run rẩy ôm cửa sổ khóc ré toạc cả họng. Nước lên chấm mái, chiếc ghe quần tới quần lui mãi trong sân, trong vườn trong đám ruộng trước nhà ông Trưởng vì bác Cả lì lợm không chịu lên ghe. Trong cơn cuồng loạn cuối cùng, ông Trưởng ôm chú Thứ tiến ra mũi ghe:
- Thằng Cả, lên ghe! Chừ mi không lên là tau với thằng Thứ nhảy xuống đây.
Năm đó chú Thứ chưa biết bơi. Bác Cả biết ông có tính gàn, nói là làm. Chẳng còn cách nào khác, bác thả người trôi trên mặt nước cho chiếc ghe lại gần, cho người ta kéo mình lên.
Bài tập làm văn cất trong tráp là bài văn cuối cùng trong đời học sinh của bác Cả, bài văn chấm dứt một sự nghiệp học hành huy hoàng ngắn ngủi. Bác bỏ học, đốt hết sách vở riêng bài văn ấy ông cất lại được nhờ sau đám tang của bà, bạn học của bác đến thăm mang theo bài văn thầy mới trả để khuyên bác đi học lại. Hôm sau, thầy cũng đến nhưng bác chẳng cho ai cơ hội khuyên răn mình. Bác trốn hết, trốn đi đâu ông Trưởng chẳng biết, chỉ biết tối đến là thấy bác ngồi lầm lì ngoài hiên.
Mùa mưa lụt năm nào thằng Cả của ông cũng thế, lầm lì cau có. Hai mươi sáu năm vẫn chưa thể tự cởi trói cho mình. Khi vết thương trong lòng quá lớn thì mọi sự an ủi đều trở nên vô nghĩa. Đến thời gian còn không chữa lành được thì ông làm được gì? Ông chỉ cố né đi đừng nhắc để không khoét sâu thêm vết thương đang mưng mủ và âm thầm chảy máu.
Ông lau vội giọt nước mắt sót lại qua năm tháng. Ông chỉ tay: góc ni là mệ bây hay ngồi bằm rau heo, chỗ tê là mệ phơi áo quần lao động của tau còn trên hiên gần cây cột là mệ ngồi trảy tiêu…
- Mệ đẹp gái dễ sợ, ôn hì? – Nhỏ hốt nắm đậu cuối cùng cho vào mủng, lém lỉnh nhìn ông.
- Ừ.
- Đẹp nhất làng luôn, ôn hì?
- Ừ, nhất làng. – Ông Trưởng móm mém cười xoa đầu Nhỏ.
Không chỉ nhất làng mà là nhất trên đời, trong lòng ông.
***
Đã vào giữa vựa tiêu, tiêu chín đỏ từng chùm như thắp đèn lồng trên lá. Lọt giữa vườn tiêu nghe ran ran mùi cay nơi cánh mũi. Nhỏ mong mủng tiêu chóng đầy để nó bê vào hiên ngồi trảy tiêu cho đỡ mỏi. Từ đầu sáng đến giờ nó đi chắc cũng sém mười vòng rồi.
- Vói không tới thì để tau hái giùm cho.
Tiếng Tộp Anh nói với lên khi Nhỏ đang đứng trên thang, nó đã leo được nửa thang và không có ý định leo tiếp. Nó không biết trèo cây và còn mắc bệnh sợ độ cao. Tộp Anh thì khác, nó nhìn cái thang cao lênh khênh mà thèm. Vườn nhà nó chẳng có tiêu nên cũng khác với Nhỏ, Tộp Anh hái tiêu không phải vì nhiệm vụ mà như là một trò tiêu khiển.
Nhỏ bàn giao cái mủng và cái thang cho Tộp Anh rồi vào hiên kê đòn ngồi trảy tiêu với bác Cả. Chợt, nó hỏi bác:
- Chỗ ni hồi trước mệ nội hay ngồi trảy tiêu đây, ba hì?
Bác Cả không trả lời, mặt đanh lại. Nó đang ngồi đúng nơi mà bà nội nó đã ngồi và cũng trảy tiêu y như bà nội nó đã làm. Nó thấy linh thiêng và hãnh diện quá thể. Trước kia, ngoài tấm di ảnh trên bàn thờ ra nó chẳng biết gì về bà.
- Bà nội mất tội ghê, ba hì.
Nó tuôn luôn một thể những gì ba nó đã cố gắng chôn chặt, lấp kín tận đáy lòng. Bác Cả ngồi trơ như tượng. Qua cái miệng xinh xẻo của nó, chuyện cũ trở thành chuyện mới. Chỉ có nỗi đau là không hề thay đổi. Như một kẻ tay không tấc sắt đột nhiên bị đánh phủ đầu, nỗi đau dấy lên rồi chực khờ gục ngã. Cuối cùng Nhỏ đánh đòn chí mạng vào tử huyệt của vết thương.
- Rứa mà bữa ba bị đau con xin nghỉ học một buổi ba cũng không cho, ba bắt con đi cho bằng được.
Quả là đòn chí mạng. Họng bác cứng đơ. Hai câu chuyện, một vấn đề. Tương lai của Nhỏ, cuộc đời của Nhỏ là thứ quý giá bác nâng niu và sẵn sàng hy sinh để đổi lấy. Cũng vậy, người mẹ quá cố của bác đã làm tất cả cho tương lai của hai thằng con.
- Lỡ ba ở nhà một mình ba bị chi thì răng?
- Ba có bị chi thì con cũng phải học cho thành tài.
Như một lẽ hiển nhiên, Bác Cả trả lời Nhỏ một cách hùng hồn, mạnh mẽ. Gương mặt đang đanh của bác giãn ra rồi xệ xuống theo hướng nước mắt chảy xuôi. Nhỏ không quên điều cấm kị ông Trưởng đã dặn nhưng nó buộc phải nói liều vì nó sợ. Sợ bác Cả khăng khăng bắt nó đi học như hôm trời mưa ấy. Sợ bác Cả ở nhà một mình. Sợ cái lưng còn đau ê ẩm không thể cúi gập của bác mà phải lần dò ra bể nước trơn trợt. Sợ lỡ như bà nội…
 Phải, cái lưng bác Cả chẳng biết khi nào mới lành nhưng có một vết thương đang dần kéo da non và sẽ lành, lành hẳn. Nhỏ ngơ ngác nhìn gương mặt đượm buồn mà thanh thản, hồn nhiên của ba nó. Đôi mắt ấy đang trông xa vời vời về lại miền ký ức tối tăm để thắp lại ngọn lửa xanh. Nhỏ không biết được rằng nó đang làm một việc vĩ đại mà thời gian chưa làm được: chữa lành tâm hồn cho ba nó.
“Lỡ ba ở nhà một mình ba bị chi thì răng?” Dù bị gì hay không bị gì thì bác vẫn hi vọng duy nhất điều này: Nhỏ được học thành tài, được sống cuộc đời vui vẻ hạnh phúc và thăng hoa hơn bác. Và bà cũng vậy, mong muốn điều tương tự nơi bác. Thế mà năm ấy bác bỏ học. Thấy bác Cả ngồi im bất động hồi lâu, Nhỏ kéo tay áo bác, khẩn khoản:
- Ít bữa ba đừng bắt con đi học rứa nữa, ba hì.
Bác Cả ra khỏi giấc mộng dài miên man hai mươi sáu năm mới tỉnh. Đáy mắt ươm đầy tia sáng tha thứ và hồn nhiên, trìu mến nhìn Nhỏ:
- Ba sai rồi.
Thì ra người lớn cũng có khi sai chứ không phải chỉ mình con nít mới hay mắc lỗi. Nhỏ vui. Không phải vì ba nó sai mà vì nhắc đến bà mà ba nó không nổi quạu nữa.
***
Ngày tháng ai đẩy mà trôi nhanh dữ, mới đó đã trôi về tháng Chạp. Chú Thứ, thím Thứ vừa sang thắp hương tổ tiên ngày mồng Một và báo tin ba tuần nữa Gấm ra ăn Tết. Nhỏ lâng lâng suốt buổi, học mãi không vào một chữ. Chẳng biết Gấm may được áo cho ông Tý chưa? Trời đang lạnh lắm, dạo này chiếc chiếu đã rụng gần hết ông lót đủ các thứ trên giường kể cả bao cát. Và áo ông càng ngày càng thủng nhiều lỗ hơn. Mai nó sẽ mang tin tốt này lên cho ông.
Nghĩ đến ông Tý lòng nó như lửa đốt. Nhà bên Tộp Anh cũng như lửa đốt. Sáng mai thi nốt môn cuối cùng nữa thôi là lên thăm ông được rồi nhưng đêm nay chắc trời lâu sáng lắm. Chẳng phải vì mưa vì lạnh mà là vì lòng chúng bất an mong ngóng quá. Không biết ai đồn thổi làm cái tin ông Tý phát bệnh điên lan nhanh như cháy rừng. Người ta lại nói về ông và chẳng điều nào tử tế.
- Bị tửng mấy chục năm rồi mà dễ chi khỏi được.
- Lúc say lúc tỉnh nên mới gọi là tửng tửng. Đã là tửng tửng thì làm chi có lành với không lành.
- Tui nói có sai mô, ai nhìn vô tưởng bình thường chứ tui là tui biết bình thường được ba bữa. Đó, chừ phát điên lại rồi, thấy chưa?
- Điên rồi tỉnh rồi điên lại, như rứa là chừ nặng ghê lắm rồi phải hốt vô nhà thương điên đi chứ.
Chẳng còn ai nhớ đến năm kia, giữa dòng nước bạc, ông già còm nhom rách rưới ấy từng cõng hơn hai chục mạng người trên tấm lưng chỉ còn da và xương bơi miệt mài cho đến khi bị chuột rút sém phải buông tay giữa dòng. Nhỏ và Tộp Anh ban đầu chẳng bận tâm cho lắm, những lời lẽ xấu xí miệng đời dành cho ông chúng nghe đã quen. Chắc ông vui chân vui tay ghẹo toán con nít nào đó. Hoặc ông giả đò tửng tửng để tụi nó đọc vè “Ông Tý tửng tửng” nghe chơi. Hai tuần rồi Nhỏ và Tộp Anh không ghé chắc ông nhớ chúng sinh buồn… Nghĩ vậy chúng yên dạ lo thi chờ ngày kết thúc học kỳ mở tiệc ăn mừng. Vậy mà còn một buổi thi nữa thôi thì người ta bảo ông phát bệnh điên đuổi đánh con nít chảy máu và người ta tính chuyện báo chính quyền để nhốt ông vào nhà thương điên. Tai chúng lùng bùng, chúng thét lên trong tâm tưởng: “Ông Tý không điên!” Ông Tý hiền hậu của chúng không thể nào đánh con nít chảy máu được. Chắc chắn có chuyện gì đó. Tộp Anh giật mình nhớ lại tên trộm chó bặm trợn gớm ghiếc. Có lẽ nào hắn quay trở lại… Tộp Anh dựng thẳng người, môi bặm chặt. Nó đã sẵn sàng cho một cuộc chiến mới.
***
Tộp Anh băng hàng rào chạy sang nhà ông Trưởng. Nhỏ đã sẵn sàng, nó tóm cái túi nylon có mấy củ khoai sống gói trong giấy vở đi nhanh ra ngõ. Loại khoai vàng Đà Lạt ngọt và không bị sâu hà nó xin bác Cả gái cất cả tuần nay rồi. Lần trước ông nướng cho nó mấy củ khoai ông cuốc sau nhà, loại khoai trắng không hợp đất củ chỉ bé bằng ngón chân cái lại bị sâu khoét nhưng né mấy chỗ sâu ra ăn vẫn ngon. Khoai ông Tý nướng là ngon hết sảy cào cào vì chỉ có ông mới nghĩ ra kiểu nướng hay ho bằng cách cho khoai vào nồi khô đậy nắp lại nướng chứ không vùi trong than như nó hay làm. Hôm ấy chỉ mình nó được ăn, Tộp Anh và ông chẳng có miếng nào. Hôm nay nó nhất định sẽ đãi ông và Tộp Anh một bữa tiệc khoai nướng nhớ đời. Tộp Anh chẳng có gì mang lên cho ông, ngoại trừ tinh thần chiến đấu. Chúng không chạy nhưng chân lướt như được gắn bánh xe. Chúng im lặng lầm lũi đong đếm từng nhịp bước, sợ rớt nhịp nào là mất hẳn nhịp ấy.
Trong nhà, ông Tý lui cui ngồi gọt khoai. Lần trước ông nướng nguyên cả củ nên mùi sâu hà ám luôn cả nồi. Nhỏ ăn ngon lành làm ông chạnh lòng, lần này ông cẩn thận gọt hết chỗ bị sâu chỉ giữ lại miếng khoai trắng lành lặn. Chúng chắc chắn không sai hẹn với ông bởi ông biết chúng đang lo lắng. Mặt ông co lại nhăn nhúm vì sốt ruột. Cứ dăm, ba phút ông lại đứng dậy nhòm ra đường. Chợt nghe loáng thoáng tiếng bước chân, ông mừng rỡ đi ra. Trời ơi, không phải chúng! Chúng còn một đoạn ngắn nữa mới đặt chân lên ngõ nhà ông.
***
 Mới có hai tuần mà tưởng như lâu lắm, hôm nay, những hòn sỏi lại hát lao xao dưới chân chúng. “Ôn ơi!” Chúng gọi to khi vừa chạm tới hiên. Chẳng nghe tiếng ông đâu, chỉ thấy con dao nhỏ và củ khoai nằm chỏng chơ bên bếp. Ông đang gọt khoai chắc chắn không đi đâu xa. Tộp Anh lượn ra vạc đất sau nhà, ra vạc cỏ tranh và nương gần đó, vẫn không thấy ông đâu. Nhỏ ôm mấy củ khoai vào lòng gác mặt lên đầu gối ngồi bệt ngoài hiên. Những cánh chim lẻ bầy đơn chiếc liệng giữa tầng không, tiếng kêu tìm bạn chơi vơi. Gió tháng Chạp hiu hiu đong đưa chùm hạc treo nơi cửa sổ. Đang lạnh căm mà bỗng dưng chúng toát mồ hôi. Lửa trong lòng đang cháy đượm. Cứ đợi thêm một phút lửa lại đốt ruột gan chúng thêm một chút. Tộp Anh nắm chặt hai tay đi tới đi lui trong sân đã hơn chục vòng.
- Ôn về rồi nì, Nhỏ. – Tộp Anh rối rít.
Ông không đi từ ngõ vào mà đi từ hướng nương nhà người ta sang. Dáng ông Tý liêu xiêu nghiêng ngả trên mấy vồng đất trống. Nhỏ mỉm cười, ông lại tấu hài chọc nó nữa rồi. Những bước chân của ông chậm dần, chậm dần khi gần đến nhà. Chúng vùng chạy. Không, ông Tý của chúng không còn sức tấu hài nữa. Những bước chân nghiêng ngả, xiêu vẹo ấy là thật. Mắt ông mờ dần, người ông co giật, dòng máu nóng bắt đầu đóng băng. Dù chỉ còn mấy bước nữa thôi nhưng ông không cố nổi. Ông ngã sóng soài trên đất. Tộp Anh đỡ người ông lên. Tái tê, chúng chẳng biết trời đất gì nữa chỉ cố lết dìu ông vào nhà. Vào đến cửa, người ông duỗi ra khiến ba ông cháu ngã lăn cù trên đất. Tộp Anh nhìn trật xuống chân ông.
- Không!
Tộp Anh thét lên. Hai mắt nó đỏ au như có máu. Trên mắc cá chân trái ông là vết nanh con rắn độc. Không! Ông Tý của nó sao có thể để rắn cắn được chứ! Nhỏ quýnh quáng chạy đi lấy con dao. Bài sơ cứu khi bị rắn cắn này là chính ông đã dạy. Nó xé bao nylon đựng khoai vụng về bó chân ông lại, rạch rộng vết cắn. Tộp Anh cúi sát đất hút máu độc cho ông nhưng mới chạm hờ vào vết thương ông đã trở người quay vết cắn xuống đất. Trong cơn mê man ông vẫn không thể để Tộp Anh làm điều dại dột. Chút sức tàn còn sót lại khi đứng trên đường phân cách của hai thế giới, giữa sống và chết, bùng lên mãnh liệt. Ông quật người Tộp Anh xuống ôm ghì trước ngực. Nước mắt Nhỏ chảy dài, chảy dài vô tận. Nó bật dậy vào lật chiếc chiếu lấy cái rương kho báu đặt vào nách ông. Nhưng ông không kẹp cái rương mà vòng tay ôm lấy nó. Nhỏ không biết được rằng đã từ lâu chúng là kho báu quý nhất của ông. Hai nách kẹp hai đứa ông rướn hết sức lấy hơi thì thào vào tai chúng.
- Ôn… không bị… điên nữa…mô.
***
Gió vẫn thổi những con hạc giấy hiu hiu nơi cửa sổ. Trên hiên những củ khoai vàng nằm lạnh lẽo. Trong bếp những củ khoai trắng nằm chơ vơ. Những củ khoai biết khóc. Ngôi nhà lùi dần sau gót chân. Chúng chạy băng băng trên đường, nước mắt quật ngược trong gió rát cả trời tháng Chạp. Lát sau, kẻng báo tang vọng khắp mấy xóm.
Đám tang ông Tý không một chiếc khăn tang, không một áo xô trắng. Chỉ có những sợi vải trắng trên cổ tay của chúng. Ban đầu là Nhỏ và Tộp Anh để tang ông. Sau, con nít đứa nào cũng đeo sợi vải trên tay. Bọn chúng hoặc là đã từng bị ông rượt hoặc là đã từng ném đá ông hoặc là đã từng được ông cho kẹo… Mỗi đứa một kiểu nhưng khi biết ông mất chúng hụt hẫng một niềm chung: tuổi thơ từ nay sẽ vắng một miền cổ tích.
Hội đồng làng tổ chức tang lễ cho ông. Dưới căn nhà xiêu vẹo ấy là một đám tang đông người đến tiễn nhất. Hầu như ai cũng từng biết, từng ghét, từng sợ, từng thương cảm cho ông. Họ đứng xếp thành vòng trong vòng ngoài bên quan tài ông. Tộp Anh xin bác Lớn cho nó được ôm bát nhang của ông, với tư cách là con trai ông Tý – điều mà nó đã thầm lặng coi như chân lý. Nhỏ đi kế bên. Không có áo xô nào cho chúng dù vậy với chúng hôm ấy là tang trắng trời. Nhưng chúng không khóc. Người ta có thể chôn cỗ quan tài xuống lòng đất nhưng không bao giờ có thể chôn được một huyền thoại. Cũng như không bao giờ có thể chôn được kho báu trong tim chúng.
Ông Tý điên, ông Tý tửng tửng. Người ta có thể củng cố cho lý luận của mình bằng việc nói rằng chỉ có người điên người tửng mới bất chấp tính mạng để cứu một thằng Câm. Và người ta khóc. Rất nhiều nước mắt đã rơi khi thằng Câm cùng ba mẹ nó quỳ thụp lạy tạ ơn ông bên quan tài. Nó cố gắng dựng lại cảnh ông Tý đập chết con rắn thứ nhất, hút máu độc cứu nó, cõng nó lên vì nó sợ hãi nên đã chết ngất. Bất ngờ, con rắn thứ hai tấn công cắn vào cổ chân trái của ông. Ông đập chết con thứ hai, đuổi thằng Câm đi rồi tự lết về nhà. Cái nương ấy chỉ cách nhà ông có hai quãng nương xanh khác. Ông phát hiện một hang rắn hổ cực độc trong nương mà không cách nào nói cho thằng Câm hiểu. Vì nó bị điếc. Nó bắt chước tụi bạn vào nương canh bẫy chim miều. Nó có biết chim hót hay ra làm sao đâu nhưng nó vẫn muốn nuôi chim như chúng bạn. Ông Tý làm đủ cách mà nó không hiểu nên ông phải đuổi đánh. Càng bị ông đuổi thằng Câm càng thích vào nương. Phải có gì đó hay ho ông sợ nó giành với ông ông mới đuổi…
Những ngày qua, ông đã rất cố gắng nhưng không một ai cho ông cơ hội để cất tiếng nói, để đối thoại, để giãi bày. Họ né khi ông nhìn, họ giả điếc khi ông gọi nhưng họ kết án ông. Ông không cần sự giúp đỡ cũng không cần sự thông cảm nhưng vì Tộp Anh vì Nhỏ vì thằng Câm ông cần được nói sự thật. Thế thôi mà không ai cho ông cơ hội!
Nắng tháng Mười Hai chóng tàn, sương bắt đầu xuống nhiều trên những dãy nương xanh, trên những ngọn đồi biếc có gió trầm ca réo rắt quanh năm. Đàn chim chiều chập chờn dìu nhau tìm chỗ ngủ. Nắm đất cuối cùng đã đắp xong.
“Ôn Tý tửng tửng
Ôn Tý tòn ten
Mấy tấm nắp keng
Cái kèn lá chuối
Lồng đèn tháng Tám
Bịch chè đậu ván
Con gián nằm ngang
Chàng hiu nằm dọc
Củ khoai biết khóc…”
Nắm đất cuối cùng đã đắp xong. Cồn Ông Cải khuất dần sau gót chân người đi tiễn khi bài vè ròn rã dội vào xanh thẳm ngút ngàn cây cỏ rồi trả lại cho họ tiếng vọng đến ngày sau. Bài vè vừa khép lại một cuộc đời nhưng mở ra một huyền thoại trong lòng chúng. Con người sinh ra không phải chỉ để hóa thành đất mà là để đi vào trái tim của những con người khác và sống trong cuộc đời của những con người khác. Cách đó một nghìn cây số, Gấm đang háo hức xếp chiếc áo ấm to sụ nhét vào vali chờ ngày về quê.
***
Thay lời kết: Không phải tìm đâu xa, kho báu đẹp nhất chính là kho báu trong trái tim chúng ta. Tác giả tin rằng trái tim của ai cũng có kho báu như thế.
--HẾT--







Kho Báu (11) - Lệ Hằng Kho Báu (11) - Lệ Hằng Reviewed by Lê Sính on 11:36 PM Rating: 5

No comments:

Powered by Blogger.