Cung đàn vi vút ngân lên giữa mùa đông cuộc đời


MÙA ĐÔNG VỌNG CÁNH ÉN VỀ
(thơ Nguyễn Hoàng Đức)
MỘT CUNG ĐÀN DUY LÝ VI VÚT NGÂN LÊN GIỮA MÙA ĐÔNG CUỘC ĐỜI
***
"Behold, we know not anything;
 I can but trust that good shall fall
 At last—far off—at last, to all,
And every winter change to spring."
(In the Memoriam A.H.H – Alfred, Lord Tennyson[1])
“Hãy ngắm nhìn, dù chúng ta chẳng hiểu gì cả;
Tôi có thể nhưng tin rằng những điều đẹp đẽ sẽ lụi tàn
Cuối cùng – xa thật xa – cuối cùng, cho tất cả,
Mọi mùa đông đều chuyển sang xuân.”
(Lệ Hằng dịch)

Bốn câu thơ trên là một khổ trong tuyệt tác Tưởng Niệm A.H.H của Tennyson. Afred Tennyson là một nhà thơ lãng mạn điển hình dưới thời nữ hoàng Victoria và ông được xem là một trong những nhà thơ nổi tiếng nhất của nước Anh. In the Memoriam được viết để tưởng nhớ người bạn tri kỷ đã khuất là Arthur Henry Hallam. Mặc dù bài thơ khởi phát từ tình cảm và sự kiện có tính chất cá nhân nhưng trong Tưởng Niệm A.H.H Tennyson đã luôn phóng chiếu và hướng sự quan tâm ra bên ngoài, thể hiện một thế giới quan đa dạng uyên thâm cùng những vấn đề lớn như là vũ trụ và Thượng Đế để qua việc thể hiện nỗi đau ông tìm ra những nguyên lý cuộc đời. “Mọi mùa đông đều chuyển sang xuân.” Điều hiển nhiên ấy phải chăng là quá tầm thường?
Không, không hề!
Qua sự mô phỏng, tái hiện và đặc biệt là qua sự hà hơi thổi hồn tạo tác của những trí tuệ đang thăng hoa thì những điều hiển nhiên như là chân lý ấy trở thành những tuyệt phẩm của thi ca cũng như của triết lý nhân sinh. “Mọi mùa đông đều chuyển sang xuân”, đằm mình trong dòng suy lý và tưởng niệm của Tennyson câu thơ này đã ám ảnh tâm trí tôi và tôi bắt gặp chính sự xoay chuyển luân hồi này ngay trong tựa đề bài thơ Mùa Đông Vọng Cánh Én Về bởi cánh én là tín hiệu của một mùa xuân mới. Mùa đông, mùa xuân trong thơ Nguyễn Hoàng Đức, cũng như trong thơ của Tennyson hay của rất nhiều nhà thơ khác đều không còn là những mùa đơn thuần của thiên nhiên nữa mà là mùa của cuộc đời, của lẽ sống. Có rất nhiều con đường để tiếp cận và thưởng thức Mùa Đông Vọng Cánh Én Về, riêng trong chuyến này tôi muốn mời bạn đọc – những khách thơ chân chính trên hành trình chung của chúng ta – tiếp cận và khám phá sự suy lý và con đường sáng tạo của thi nhân mà theo tôi là có nhiều nét khác biệt với thi ca Á Đông truyền thống.
Trước tiên chúng ta sẽ cùng nhau chiêm ngưỡng bức tranh mùa đông toàn cảnh.
“Lại thêm gió bấc
Ùn ùn thổi thốc về
Những đường tên vun vút bắn từ vòm cung núi
Những xoáy lốc cuốn tít mù từ muôn vực thẳm

Bầu trời nặng nhọc chuyển mình
Giữa tầng tầng áo mây mờ mịt
Dãy non xa lớp lớp nặng sương mờ
Lắng những nốt trầm buông
Kéo bản nhạc thời gian
Chìm sâu khúc chiều u ám

Vai ta so ro
Co mình giữa những lớp áo dầy
Muốn chen sát làn da đòi hơi ấm
Ôi những cành cây
Xác xơ tấm áo choàng lá phủ
Phơi mình trơ xương
Giữa gió lạnh cắt trời”
“Winter is an etching…” “Mùa đông là một bản khắc chìm trên kim loại…” Câu thơ của Stanley Horowitz đã trở thành một trong những câu danh ngôn về mùa được yêu thích và sử dụng rộng rãi nhất trên các trang mạng, trang báo và thậm chí khắc lên ghế đá công viên. Nó được xem là khái quát và làm bật lên được linh hồn của mùa đông. Chúng ta cũng đang có một bản khắc chìm như thế trong Mùa Đông Vọng Cánh Én Về. Đã qua hết thảy sự tươi tắn sặc sỡ của mùa xuân, sự trong trẻo bóng bẩy của mùa hè, sự thắm đượm lẫn bảng lảng của những mảnh ghép mùa thu, cuối vòng tuần hoàn là sự lạnh lẽo của những mảng khắc chìm đơn sắc trong vũ điệu bi hùng của gió bấc “ùn ùn thổi thốc về” như “Những đường tên vun vút bắn từ vòm cung núi”. Một bức tranh mùa đông kỳ vĩ hiện ra qua nét bút tài hoa của người thi sỹ: “Giữa tầng tầng áo mây mờ mịt – Dãy non xa lớp lớp nặng sương mờ”. Cái nhìn đi từ xa đến gần, từ bao quát đến cụ thể, từ vọi vọi trên bầu trời và những vòm cung núi đến những cành cây “Xác xơ tấm áo choàng lá phủ - Phơi mình trơ xương – Giữa gió lạnh cắt trời.” Nét chấm phá cuối cùng về những cành cây trơ xương đã kiện toàn cho bức tranh mùa đông toàn thể. Nhưng mục đích của người nghệ sĩ không phải dừng lại ở một bức tranh đẹp hoàn hảo về mùa đông mà bức tranh này phải đẻ ra, phải kéo theo một bức tranh khác. Đó là một quá trình vận động như ta từ phút này nhảy qua phút khác để cuối cùng, sau tất cả, đón một ngọn gió xuân “ngược sớm về”“ấp” cơn lạnh lẽo vò võ của mình trong cánh én phương Nam. Khoảng khắc thiêng liêng, diệu kỳ của càn khôn mở ra một bức tranh kỳ vĩ khác.
“Một tầng mây nứt ra theo lưỡi cưa của vầng dương
Một ngọn gió xuân ngược sớm về
Một lớp sương mờ rướn lên mây
Một vũ trụ nâng mình dậy
Những thân cây dứt bỏ những chiếc lá còn sót lại
Trong cuộc thay áo mùa thu
Tạc dáng hiên ngang trong gió lạnh
Đòi diễn nốt vở bi kịch lột xác của mình
Mong cải lão hoàn đồng
Trong tấm áo mùa Xuân
Bản nhạc dâng lên
Những con đường nâng mình chạy
Ùa về dãy núi đang vươn cổ
Ngóng phương Nam
Đợi một cánh én về”
Màn kịch “lột xác” cuối cùng bắt đầu khi vầng dương làm nứt các tầng mây. Cũng là các tầng mây ấy, lớp sương mờ ấy, con đường ấy, cành cây ấy… nhưng được đặt trong sự vận động không ngừng của quy luật tự nhiên và con mắt của nhà thơ tinh tế đến mức nhìn ra được giữa không gian “lớp lớp nặng sương mờ” ấy đang có lớp đang “rướn lên mây” mở màn cho “vũ trụ nâng mình dậy”, đánh thức cả càn khôn khi những “con đường nâng mình chạy – ùa về dãy núi đang vươn cổ” đợi cánh én phương Nam. Một bức tranh họa cảnh đông tàn – xuân chớm hoàn hảo trong sự vận động vi tế của nó cho thấy khả năng tạo tác của người cầm bút. Một bài thơ hay là một bức họa đẹp, chúng ta có lẽ đã quen với cách nghĩ này và trong Mùa Đông Vọng Cánh Én Về ta có đến hai bức họa mùa đông với hai sắc thái khác nhau.
Nguyễn Hoàng Đức là thi sỹ luôn tìm kiếm sự hùng vĩ mênh mông và mãnh liệt, để từ đấy hình ảnh con người hiện ra nhỏ bé trong mối tương quan với đất trời nhưng chủ động và dứt khoát trong tư tưởng cũng như hành động. Nhỏ bé như khi “vai ta so ro – Co mình giữa những lớp áo dầy – Muốn chen sát làn da đòi hơi ấm.” Và chủ động như khi “Ý tưởng ngoi ra thân xác” “Và ta đi – Ngập trong bóng hoàng hôn – Lội trong những vần thơ còn chưa kịp thành hình…” Trong thơ Nguyễn Hoàng Đức, ta bắt gặp hơn một lần kịch bản sau: Đối lập với sự mênh mông huyền nhiệm của càn khôn là hình ảnh con người cô đơn, nhỏ bé trong vóc dáng và kiếp sống nhân sinh nhưng mạnh mẽ, dứt khoát và sáng suốt trong tư tưởng và thần trí. Lại nữa, sáng tác của Nguyễn Hoàng Đức thường không mang nỗi buồn thân phận của một đối tượng riêng biệt nào và cũng không bắt nguồn từ cảm xúc chủ quan mà bắt nguồn từ nhận thức khách quan và đi từ cái rộng lớn đến cái nhỏ bé, từ nguyên lý càn khôn soi chiếu vào thân phận con người.
Về điểm này nếu ta xét một cách tổng quát và mở rộng ra ta sẽ thấy đây chính là điểm khác biệt lớn giữa thơ ca phương Tây (với trung tâm là văn hóa châu Âu) và thơ ca Á Đông. Để cụ thể hóa nhất có thể và trực tiếp nhất có thể, chúng ta hãy cùng nhau đọc lại những vần thơ về mùa đông của các thi sỹ nước nhà nhằm đưa ra sự so sánh và nhìn nhận dễ dàng hơn.
Một cõi quên
(Hàn Mặc Tử)
Đêm ấy lại đêm thức với trăng
Mưa ngoài hiên lạnh ẩn dáng Hằng
Cô đơn! Ừ nhỉ, chừng quạnh quẽ
Đêm rất riêng mình – Một cõi quên!

Tôi trả cho tôi những ngại ngần
Trả người - đây nhé những phân vân
Cõi riêng lặng lẽ gài then kín
Ngoài ấy người vui với bụi trần.

Cơn gió lập đông buốt lạnh lùng
Tứ bề gom lại một cõi không
Lặng nghe – Tôi nhé, nghe tôi khóc
Hiện hữu mà chi? Chỉ nghẹn lòng.
Bài thơ bắt đầu bằng hành động “đêm ấy lại đêm thức với trăng”. Thức với trăng là một hành động của riêng cá nhân Hàn Mặc Tử và sự cô đơn, quạnh quẽ cũng là riêng có của nhà thơ. Trong sự riêng tư ấy, rõ ràng “cơn gió lập đông buốt lạnh lùng” hay “mưa ngoài hiên lạnh ẩn dáng Hằng” cũng là thế giới riêng trong nỗi niềm riêng của thi nhân. Hẳn nhiên, rất nhiều khi ta bắt gặp cõi lòng mình trong đó, ta gọi là “chung một nỗi niềm” với thi nhân nhưng đó chỉ là thảng hoặc, rằng trong một lúc nào đấy giữa dòng đời thâm trầm cảm xúc ta thấy mình cũng hoang hoải, cô đơn, cũng nghẹn lòng như thi nhân. Ta không thể xem đó là nguyên lý của cuộc đời chung bởi thi nhân lấy cái tình của chính mình mà đưa vào cảnh và tình ấy là tình riêng. Thậm chí, cảm giác “chung một nỗi niềm” lắm khi chỉ là sự ngộ nhận. Lấy tình họa cảnh là nét chung điển hình của thơ ca Á Đông ta, đa phần chúng ta đều chấp nhận quan niệm “người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” (Nguyễn Du) và xem đó như là “đặc sản” của các nhà thơ. Chung quy lại, thơ ca phương Đông luôn lấy trữ tình làm gốc và có xu hướng xem trữ tình như một tiêu chuẩn để luận bàn và bình phẩm thi ca. Người làm thơ mượn thơ để nói cái tình, cái chí của mình nên qua thơ ta thường bắt gặp những nỗi buồn thân phận. Đầu thế kỷ hai mươi, Thơ Mới thổi luồng gió lạ chưa từng có làm khuynh đảo nền thơ ca cổ điển nước nhà. Trong những cái tên rất “mới” ấy, Xuân Diệu được nhắc đến có lẽ là nhiều hơn ai hết và được xem là “mới” nhất, Tây nhất. Tuy nhiên, nếu xét kỹ về con đường và nguyên lý sáng tạo của thi ca phương Tây ta sẽ thấy Xuân Diệu mới về thi pháp và từ ngữ nhiều hơn là về cốt lõi trong tư tưởng và con đường sáng tạo.
“Mùa đông trên gối rét tê bông
Máu giữa lòng đơn uổng ấm nồng
Hồn ước chung đôi; thầm lặng lẽ
Vào nằm chia lạnh với chăn không.”
(Những kẻ đợi chờ - Xuân Diệu)
“Những đêm đông giạt bước ở trên đường
Gió khuya khoắt giậy cơn buồn lá úa
Sao rải rác như lệ vàng đêm nhỏ
Mưa lơ phơ như dạ khóc âm thầm!”
(Yêu mến – Xuân Diệu)
Nhà thơ vẫn đi từ cảm xúc chủ quan, lấy cái tình để đưa vào cảnh tạo nên những sắc thái khác nhau cho cảnh nhưng chung quy lại vẫn là nỗi buồn thân phận và sinh mệnh của thi nhân. Đọc thơ Hàn Mặc Tử và Xuân Diệu, ta không sao tránh được cảm giác rằng những mùa đông ấy là những mùa đông riêng biệt của thi nhân bởi cái tình của con người biến hóa không ngừng nên đông năm này sẽ khác đông năm sau, sau nữa… Nhưng đến với thơ Nguyễn Hoàng Đức, mùa đông không phải là mùa của lòng riêng và cũng không hẳn chỉ là mùa của thiên nhiên mà còn là biểu tượng của lẽ sống và cuộc đời chung.
“Rồi một đống lửa được đốt lên
Từ tay đoàn thám hiểm
Cả miền băng tuyết cựa làn da lạnh
Sà vào lòng ngọn lửa
Ấm mầu hồng!
Ấm hơi người!
Rồi đến lượt mùa Đông
Muốn ấp cơn run rẩy vò võ của mình
Trong cánh én phương Nam
Nhẹ lướt về
Mong giải thoát lốt nặng nề u uẩn
Vén nhẹ không gian
Cho mầm sống trồi lên
Từ muôn vàn cây cỏ”
Khái niệm cánh én phương Nam ở đây cũng không còn giới hạn trong lãnh thổ quốc gia như thể phân chia từ vĩ tuyến mười bảy trở vào hay trở ra nữa bởi mùa đông chúng ta đang có là mùa đông chung của Trái đất và nhân loại.
“Bỗng ký ức nối đuôi từng chuỗi
Như những toa tầu bất tận
Chở quá khứ về trên đường ray lịch sử
Tất cả
Đòi hiện thân!
Đòi quyền sống!
Đòi giá trị!
Ngay ngưỡng cửa khắc giờ hiện tại
Đúng lúc này đây
Nơi ta đang đứng”
Trong khoảnh khắc chuyển tiếp diệu kỳ của thiên nhiên, kết thúc vòng tuần hoàn xuân qua, hạ đến, thu sang, đông tàn để mở ra một vòng tuần hoàn mới bất ngờ thi sỹ gợi ra một trường liên tưởng mới giữa quá khứ, hiện tại và tương tai. Cũng như thế, mùa đông được mở thêm một chân trời mới nơi suy tưởng không vo tròn trong giới hạn thiên nhiên mà mở ra giữa sân khấu cuộc đời. Những thăng trầm, những mùa đông cuộc đời cũng sẽ chuyển giao, tuần hoàn như thế để tương lai “vỗ cánh” ùa về như những “cánh én phương Nam” đòi xem “những bản hợp đồng cho dự án của ngày mai”.
“Và kia, cả chuỗi tương lai
Rợp trời vỗ cánh ùa về
Cố lách mình qua khe cửa
Phút giờ hiện tại
Đòi xem những bản hợp đồng
Cho dự án của ngày mai
Ôi thật diệu kỳ
Chuỗi chuỗi hoàng hôn quá khứ
Và lớp lớp bình minh thuộc về vĩnh cửu
Đều hiện mình lên
Trên bản lề hiện tại”
Trên bản lề của hiện tại là “hoàng hôn quá khứ”“bình minh thuộc về vĩnh cửu”, phải chăng đây cũng là hình ảnh của mùa đông trong cuộc cải lão hoàn đồng vẫn còn sót lại những chiếc lá trong cuộc thay áo mùa thu và ủ ấp tương lai trong hơi ấm của cánh én “ngược sớm về”. Từ cảm thức về thiên nhiên, thời gian, cuộc đời… con người của lý trí bật dậy trong tâm thế dứt khoát, đầy trách nhiệm:
“Và ta đi
Ngập trong bóng hoàng hôn
Lội trong những vần thơ còn chưa kịp thành hình
Kéo lê những nốt trầm
Gieo âm trĩu buồn hồn núi lạ
Rung phím gió phương Nam
Gọi cánh én mùa Xuân
Hãy về
Trên cung đàn hy vọng.”
 Khác với phong cách sáng tác truyền thống Á Đông, Nguyễn Hoàng Đức không bắt nhịp thơ từ cảm xúc chủ quan, không hướng những vần thơ vào tâm tư tình cảm riêng, cũng không lấy cảnh để nói tình hay nói chí mà ngược lại, ông hướng cái nhìn bao quát ra bên ngoài, tìm kiếm sự biểu hiện, mô phỏng từ bên ngoài để từ đó tìm ra những nguyên lý chung của đất trời vạn vật và cuối cùng là soi chiếu thân phận, cuộc đời mình trong cái nhìn toàn thể, nhất quán. Quá trình này có thể xem là đồng nhất với quá trình đi tìm tri thức. Ta có thể nói thơ Nguyễn Hoàng Đức thấm nhuần nguyên lý sáng tạo của phương Tây bởi phương Tây quan niệm rằng văn học là biểu hiện trạng thái tri thức của con người chứ không phải là biểu hiện tình cảm chủ quan và quá trình tạo tác những vần thơ cũng chính là quá trình đi tìm chân lý. Đó là lý do tại sao trong quan niệm khắt khe của phương Tây thì mỗi thi hào đều là một triết gia theo cách riêng của họ, và cũng chính từ cái nôi văn minh này người ta có nhiều nhà mỹ học, nhà thơ là triết gia hơn cả.
Chuyến thưởng ngoạn cũng đến đây đã có thể kết thúc, tuy nhiên xin khách thơ nán lại để cùng nhau đọc lên bài thơ Ngọn Gió Mùa Đông của nhà thơ lãng mạn nổi tiếng bậc nhất dưới thời nữ hoàng Vitoria – John Keats – để thấy cách thức, con đường mà ông tạo tác các vần thơ và cũng là để củng cố lại những điều vừa nói ở trên. Jonh Keats là tác giả của bài thơ Tụng ca chim sơn ca – một trong những bài thơ được xem là hay nhất thế kỷ 19 – và đồng thời ông cũng được xem là thầy của Alfred, Lord Tennyson.
The Winter’s Wind
John Keats[2]
O thou whose face hath felt the Winter’s wind,
Whose eye has seen the snow-clouds hung in mist,
And the black elm tops ‘mong the freezing stars!
To thee the spring will be a harvest time.
O thou whose only book has been the light
Of supreme darkness, which thou feddest on
Night after night, when Phoebus was away!
To thee the spring shall be a triple morn.
O fret not after knowledge. I have none,
And yet my song comes native with the warmth.
O fret not after knowledge! I have none.
And yet the evening listens. He who saddens
At thought of idleness cannot be idle,
And he’s awake who thinks himself asleep.

Ngọn gió Mùa Đông
John Keats
Ôi, người có khuôn mặt đã cảm thấy gió Mùa Đông
Đôi mắt người đã thấy những đám mây tuyết lửng lơ trong sương mù
Và đỉnh cây gỗ du đen ngòm giữa những vì sao băng giá!
Với người mùa xuân là thời điểm của mùa vụ.
Ôi, người mà cuốn sách duy nhất chính là ánh sáng
Của đêm tối vô cùng mà người chán ngấy
Đêm qua đêm, khi thần Mặt Trời đi vắng!
Với người mùa xuân sẽ là ba lần ánh sáng bình minh.
Ôi, sự băn khoăn không nằm sau hiểu biết. Tôi chẳng có
Nhưng bài hát của tôi đến thật hồn nhiên và ấm áp.
Ôi, sự băn khoăn không nằm sau hiểu biết. Tôi chẳng có gì
Nhưng màn đêm lắng nghe. Anh ấy đang buồn
Vì nghĩ rằng sự nhàn rỗi không thể nhàn rỗi nữa
Và anh ấy đánh thức kẻ nghĩ rằng anh ấy ngủ say.
(Lệ Hằng dịch)



MÙA ĐÔNG VỌNG CÁNH ÉN VỀ
Nguyễn Hoàng Đức

Lại thêm gió bấc
Ùn ùn thổi thốc về
Những đường tên vun vút bắn từ vòm cung núi
Những xoáy lốc cuốn tít mù từ muôn vực thẳm

Bầu trời nặng nhọc chuyển mình
Giữa tầng tầng áo mây mờ mịt
Dãy non xa lớp lớp nặng sương mờ
Lắng những nốt trầm buông
Kéo bản nhạc thời gian
Chìm sâu khúc chiều u ám

Vai ta so ro
Co mình giữa những lớp áo dầy
Muốn chen sát làn da đòi hơi ấm
Ôi những cành cây
Xác xơ tấm áo choàng lá phủ
Phơi mình trơ xương
Giữa gió lạnh cắt trời

Ý tưởng ngoi ra thân xác
Nặng nề
Như vầng dương đang cố lách lưỡi cưa tròn
Xẻ một đường khe
Giữa các tầng mây o bế bịt bùng

Ký ức bỗng hiện về
Bắc Cực
Quê hương của miền lạnh lẽo
Dâng tràn tuyết giá
Khiến cả cánh loài chim cũng rụng

Rồi một đống lửa được đốt lên
Từ tay đoàn thám hiểm
Cả miền băng tuyết cựa làn da lạnh
Sà vào lòng ngọn lửa
Ấm mầu hồng!
Ấm hơi người!
Rồi đến lượt mùa Đông
Muốn ấp cơn run rẩy vò võ của mình
Trong cánh én phương Nam
Nhẹ lướt về
Mong giải thoát lốt nặng nề u uẩn
Vén nhẹ không gian
Cho mầm sống trồi lên
Từ muôn vàn cây cỏ

Cả miền Bắc Cực muốn sưởi ấm trong vòng tay ngọn lửa

Cả khung trời mùa Đông muốn ấp mình trong vài cánh én

Điều kỳ diệu đó phải chăng là không tin nổi?

Bỗng ký ức nối đuôi từng chuỗi
Như những toa tầu bất tận
Chở quá khứ về trên đường ray lịch sử
Tất cả
Đòi hiện thân!
Đòi quyền sống!
Đòi giá trị!
Ngay ngưỡng cửa khắc giờ hiện tại
Đúng lúc này đây
Nơi ta đang đứng

Và kia, cả chuỗi tương lai
Rợp trời vỗ cánh ùa về
Cố lách mình qua khe cửa
Phút giờ hiện tại
Đòi xem những bản hợp đồng
Cho dự án của ngày mai
Ôi thật diệu kỳ
Chuỗi chuỗi hoàng hôn quá khứ
Và lớp lớp bình minh thuộc về vĩnh cửu
Đều hiện mình lên
Trên bản lề hiện tại

Ôi diệu kỳ
Diệu kỳ hiện tại!
Diệu kỳ ngọn lửa của con người!
Và diệu kỳ cánh én!

Một tầng mây nứt ra theo lưỡi cưa của vầng dương
Một ngọn gió xuân ngược sớm về
Một lớp sương mờ rướn lên mây
Một vũ trụ nâng mình dậy
Những thân cây dứt bỏ những chiếc lá còn sót lại
Trong cuộc thay áo mùa thu
Tạc dáng hiên ngang trong gió lạnh
Đòi diễn nốt vở bi kịch lột xác của mình
Mong cải lão hoàn đồng
Trong tấm áo mùa Xuân
Bản nhạc dâng lên
Những con đường nâng mình chạy
Ùa về dãy núi đang vươn cổ
Ngóng phương Nam
Đợi một cánh én về

Và ta đi
Ngập trong bóng hoàng hôn
Lội trong những vần thơ còn chưa kịp thành hình
Kéo lê những nốt trầm
Gieo âm trĩu buồn hồn núi lạ
Rung phím gió phương Nam
Gọi cánh én mùa Xuân
Hãy về
Trên cung đàn hy vọng.
Hà Nội, Đêm 10/1/1997




[1] Alfred, Lord Tennyson (1809 – 1892) nhà thơ Anh
[2] John Keats (1795-1821) nhà thơ Anh

Cung đàn vi vút ngân lên giữa mùa đông cuộc đời Cung đàn vi vút ngân lên giữa mùa đông cuộc đời Reviewed by Lê Sính on 6:42 PM Rating: 5

No comments:

Powered by Blogger.